Trình tự, thủ tục phê duyệt khung giá phát điện từ ngày 26/01/2026
Ngày 10/12/2025, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư 62/2025/TT-BCT quy định hồ sơ, trình tự, phương pháp xác định, phê duyệt khung giá phát điện và phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện của hệ thống pin lưu trữ năng lượng; nội dung chính của hợp đồng mua bán điện trong đó có quy định về trình tự, thủ tục phê duyệt khung giá phát điện. Thông tư nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý về việc xác định và phê duyệt khung giá phát điện và giá dịch vụ phát điện đối với hệ thống pin lưu trữ năng lượng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 26/01/2026.
Thông tư này được ban hành dựa trên Luật Điện lực số 61/2024/QH15, Nghị định số 40/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Thông tư 62 áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu hệ thống pin lưu trữ năng lượng đáp ứng các tiêu chí: Hệ thống đấu nối vào hệ thống điện quốc gia ở cấp điện áp từ 110 kV trở lên. Hệ thống có công suất từ 10 MW. Hệ thống tham gia phục vụ nhu cầu của hệ thống điện quốc gia theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ngoài ra, Thông tư cũng áp dụng cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện, cùng các tổ chức, cá nhân liên quan. Tuy nhiên, một số trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng bao gồm: các hệ thống pin lưu trữ năng lượng kết hợp với nhà máy điện năng lượng tái tạo hoặc các hệ thống do Tổng công ty Điện lực đầu tư; các trường hợp này sẽ thực hiện theo các thông tư chuyên ngành khác của Bộ Công Thương.
Thông tư đề xuất một cấu trúc giá hai thành phần (giá công suất và giá điện năng) và cơ chế khung giá, là một tiến bộ về mặt khung khổ.
Việc tách bạch thanh toán cho "khả năng sẵn sàng" (công suất) và "sản lượng thực tế" (điện năng) là hợp lý, phản ánh đúng giá trị dịch vụ của BESS. Cơ chế điều chỉnh theo CPI và tỷ lệ trượt giá cố định (2.5%) giúp bảo vệ một phần nhà đầu tư trước lạm phát.
Cũng tại Thông tư 62, khung giá phát điện của hệ thống pin lưu trữ được xác định từ mức tối thiểu bằng 0 đồng/kWh đến mức giá tối đa. Giá tối đa được tính toán dựa trên các yếu tố sau:
Giá cố định bình quân: Nhằm thu hồi chi phí đầu tư, được tính toán dựa trên chi phí vốn đầu tư quy đổi hằng năm và sản lượng điện năng giao nhận bình quân trong nhiều năm. Các thông số đầu vào như suất đầu tư, thời gian đời sống kinh tế, tỷ suất chiết khấu tài chính, lãi suất vốn vay, và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đều được quy định cụ thể, có căn cứ rõ ràng.
Giá biến đổi: Xác định để bù đắp chi phí sạc điện, căn cứ vào đơn giá mua điện và hiệu suất của chu kỳ sạc – xả của hệ thống.
Chi phí vận hành và bảo dưỡng cố định: Xây dựng để thu hồi chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ và các chi phí phát sinh trong quá trình vận hành.
Về trình tự phê duyệt khung giá phát điện, Thông tư quy định chủ đầu tư phải hoàn thiện và gửi hồ sơ cho EVN trong thời hạn 15 ngày kể từ khi báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng được phê duyệt. Sau đó, trước ngày 1/11 hằng năm, EVN có trách nhiệm tính toán, lập hồ sơ trình Cục Điện lực thẩm định, và báo cáo Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét, quyết định.
Song song với khung giá phát điện, Thông tư cũng quy định nguyên tắc và phương pháp xác định giá dịch vụ phát điện. Mức giá này được xây dựng trên cơ sở các chi phí hợp lý, hợp lệ trong toàn bộ vòng đời kinh tế của dự án, đồng thời phải đảm bảo tỷ suất sinh lời nội tại về tài chính không vượt quá 12%.
Giá dịch vụ phát điện bao gồm giá công suất năm cơ sở và giá điện năng năm cơ sở (chưa bao gồm thuế GTGT và các loại thuế, phí khác). Mức giá này không được vượt quá khung giá do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành khi so sánh với khung giá phát điện năm cơ sở.
Căn cứ theo Điều 8 Thông tư 62/2025/TT-BCT quy định trình tự, thủ tục phê duyệt khung giá phát điện như sau:
(1) Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dụng của hệ thống pin lưu trữ năng lượng được phê duyệt, thiết kế cơ sở được thẩm định, chủ đầu tư các dự án này có trách nhiệm cung cấp báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, thiết kế cơ sở cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
(2) Trước ngày 01 tháng 11 hằng năm, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm:
(i) Lựa chọn thông số tính toán khung giá phát điện cho hệ thống pin lưu trữ năng lượng:
(ii) Tính toán hoặc có thể thuê tư vấn tính toán mức giá tối đa của khung giá phát điện cho hệ thống pin lưu trữ năng lượng theo quy định tại Điều 3 Thông tư 62/2025/TT-BCT ;
(iii) Lập hồ sơ đề nghị phê duyệt khung giá phát điện theo quy định tại Điều 9 Thông tư 62/2025/TT-BCT , trình Cục Điện lực thẩm định.
(3) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ tính toán khung giá phát điện nêu tại (2), Cục Diện lực có trách nhiệm kiểm tra tỉnh đầy đủ và hợp lệ của hồ sơ trình duyệt. Trường hợp cần thiết, Cục Điện lực có văn bản yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam sửa đổi, bổ sung hoặc giải trình làm rõ các nội dung trong hồ sơ.
Chậm nhất 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc giải trình làm rõ các nội dung trong hồ sơ của Cục Điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có trách nhiệm gửi văn bản báo cáo giải trình về nội dung trong hồ sơ theo yêu cầu.
(4) Trong thời hạn 25 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị phê duyệt khung giá phát điện hợp lệ, Cục Điện lực có trách nhiệm thẩm định khung giả phát điện, trình Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt khung giá phát điện. Trường hợp khung giá phát điện của năm tiếp theo chưa được công bố, cho phép tạm thời áp dụng khung giả phát điện của năm liền kề trước đó.
Thông tư số 62/2025/TT-BCT ngày 10/12/2025 có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển và vận hành hệ thống pin lưu trữ năng lượng, qua đó tạo cơ sở minh bạch, thống nhất cho việc xác định, phê duyệt khung giá phát điện và giá dịch vụ phát điện, đồng thời chuẩn hóa nội dung hợp đồng mua bán điện, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, đơn vị phát điện và bên mua điện, góp phần thúc đẩy đầu tư, nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện và hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng theo định hướng phát triển bền vững.