Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý
Nhằm khắc phục một số hạn chế, bất cập của Luật TGPL năm 2017 vừa qua Bộ Tư pháp đã xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, trong đó, sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận TGPL của người dân, phù hợp với tình hình và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của công tác TGPL; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Cụ thể:
1. Về diện người được TGPL
Dự thảo Luật bổ sung một số diện người được TGPL nhằm bảo đảm tối đa quyền được tiếp cận pháp luật, TGPL cho các đối tượng yếu thế, phù hợp với thông lệ quốc tế và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cụ thể như sau:
- Sửa đổi, bổ sung diện người được TGPL theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người và Luật Tư pháp người chưa thành niên để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.
- Sửa cụm từ “Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình” thành “Người bị bạo lực gia đình trong vụ việc liên quan đến bạo lực gia đình” cho phù hợp với quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
- Sửa cụm từ “Người khuyết tật có khó khăn về tài chính” thành “Người khuyết tật” (không yêu cầu điều kiện có khó khăn về tài chính) bởi vì: Người khuyết tật có những khiếm khuyết nhất định về thể chất, trí tuệ hoặc tâm thần nên thường gặp khó khăn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như khi tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội, trong đó có dịch vụ pháp lý. Công ước về quyền của người khuyết tật quy định: “Các quốc gia thành viên tiến hành mọi biện pháp cần thiết để giúp người khuyết tật tiếp cận với sự trợ giúp mà họ có thể cần đến khi thực hiện năng lực pháp lý của mình” (khoản 3 Điều 12). Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12 quy định, người khuyết tật được “chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, TGPL… phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật” (khoản 1 Điều 4). Do đó, việc mở rộng người khuyết tật thuộc diện được TGPL (không yêu cầu điều kiện có khó khăn về tài chính) là phù hợp, góp phần nội luật hóa cam kết tại Công ước về quyền của người khuyết tật.
- Bổ sung diện “Người nước ngoài được trợ giúp pháp lý theo quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” để thực hiện các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã và sẽ ký kết, tham gia; đồng thời bổ sung “các đối tượng khác theo quy định của pháp luật” để bao quát hết các đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.
2. Về người thực hiện TGPL
- Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 19 về tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, để trở thành trợ giúp viên pháp lý, ngoài các tiêu chuẩn khác thì viên chức của Trung tâm TGPL nhà nước “Không thuộc một trong các trường hợp: đang bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị kết án nhưng chưa được xoá án tích”. Bổ sung khoản 6 Điều 19: Trường hợp đã từng được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý thì không cần đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 19 là đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL. Bởi vì thực tế có trường hợp một số trợ giúp viên pháp lý (thậm chí có Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm TGPL) đã được bổ nhiệm theo quy định của Luật TGPL năm 2006 (Luật này không yêu cầu phải đào tạo nghề luật sư và tập sự TGPL) vì lý do công việc đã chuyển công tác khác nên không còn giữ chức danh trợ giúp viên pháp lý. Theo quy định hiện nay, khi họ quay trở lại làm công tác TGPL thì cần đào tạo nghề luật sư (18 tháng) và tập sự TGPL (12 tháng). Việc sửa đổi này nhằm cắt giảm các thủ tục và thời gian, phát huy nguồn nhân lực đã có kinh nghiệm thực hiện TGPL.
- Bổ sung trường hợp cấp lại thẻ do bị thu hồi khi chuyển công tác đến Trung tâm TGPL nhà nước ở địa phương khác; trường hợp miễn nhiệm và thu hồi thẻ khi trợ giúp viên pháp lý nghỉ hưu để bảo đảm thống nhất với quy định của pháp luật, đặc biệt là Luật Viên chức[1]; bổ sung các trường hợp bị thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL.
- Để thu hút những người có trình độ tham gia thực hiện TGPL, mở rộng mạng lưới thực hiện TGPL, dự thảo Luật mở rộng phạm vi người có thể trở thành cộng tác viên TGPL theo hướng: Công dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử nhân luật trở lên; có sức khỏe bảo đảm thực hiện TGPL; không thuộc một trong các trường hợp đang bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị kết án nhưng chưa được xoá án tích có thể trở thành cộng tác viên TGPL. Như vậy, dự thảo Luật không giới hạn chỉ một số nhóm người như hiện nay gồm: trợ giúp viên pháp lý; thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án; kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành kiểm sát; điều tra viên; chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước đã nghỉ hưu. Ngoài ra, các địa phương đều có thể có cộng tác viên TGPL mà không giới hạn chỉ “vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” như quy định của Luật TGPL năm 2017. Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng quy định Giám đốc Sở Tư pháp thu hồi thẻ cộng tác viên TGPL trong trường hợp: a) Không thực hiện TGPL trong thời gian 01 năm, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan; b) Thực hiện hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật TGPL hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động TGPL nhưng chưa đến mức bị thu hồi thẻ mà tiếp tục có hành vi vi phạm; c) Hợp đồng thực hiện TGPL bị chấm dứt hoặc cộng tác viên không ký kết hợp đồng thực hiện TGPL với Trung tâm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị ký kết hợp đồng của Trung tâm mà không có lý do chính đáng”.
- Dự thảo Luật bổ sung quy định cộng tác viên TGPL được thực hiện vụ việc TGPL tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng theo quy định của pháp luật (Luật TGPL năm 2017 quy định cộng tác viên chỉ được thực hiện tư vấn pháp luật). Lý do, hiện nay, nhu cầu TGPL của người dân ngày càng tăng, việc cho phép cộng tác viên TGPL được tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố tụng sẽ giúp mở rộng nguồn nhân lực, thu hút và phát huy được được những người có trình độ và có khả năng tham gia thực hiện TGPL, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận dịch vụ pháp lý kịp thời, đặc biệt trong bối cảnh nhiều địa phương đã sáp nhập, có quy mô địa bàn rộng, dân số tăng đáng kể.
[1] Khoản 5 Điều 28 Luật Viên chức quy định “khi viên chức có quyết định nghỉ hưu thì hợp đồng làm việc đương nhiên chấm dứt”.