Chính phủ quy định về định danh địa điểm, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung trên toàn quốc
Mỗi địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam sẽ được cấp một mã định danh duy nhất, thống nhất trên toàn quốc. Đây là nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 326/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 của Chính phủ quy định về định danh địa điểm, tạo cơ sở để chuẩn hóa thông tin địa điểm, kết nối dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và phục vụ khai thác trong quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị định quy định việc định danh đối với các địa điểm trong lãnh thổ Việt Nam, trừ các đối tượng thuộc Danh mục bí mật nhà nước; đồng thời quy định việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan, tổ chức thực hiện việc thu thập, tạo lập, cập nhật dữ liệu; chủ sở hữu hoặc người quản lý địa điểm hợp pháp; các cơ quan, tổ chức, cá nhân kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu định danh địa điểm cùng các đối tượng có liên quan.
Theo Nghị định, định danh địa điểm là việc thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác. Phạm vi đối tượng được định danh khá rộng, gồm thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh và các cấu trúc vật lý, đối tượng khác được quy định tại Phụ lục của Nghị định. Danh mục kèm theo Nghị định gồm nhiều nhóm như mốc địa giới hành chính, công trình văn hóa, công trình tôn giáo, trụ sở cơ quan nhà nước, công trình giao thông, nguồn nước, mặt nước, công trình trên đê và thửa đất.
Một địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, không trùng lặp trong toàn hệ thống. Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số, do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mã này phải bảo đảm tính ổn định, có khả năng mở rộng, liên kết, tích hợp, kết nối và chia sẻ thông tin với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Việc cấp mã được thực hiện trên cơ sở dữ liệu đã có, kế thừa và đồng bộ thông tin, không thay thế chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan theo quy định.
Cùng với mã định danh, Nghị định hình thành Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm là cơ sở dữ liệu quốc gia, tập trung và thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Cơ sở dữ liệu này lưu trữ nhiều nhóm thông tin về địa điểm như mã định danh, đối tượng được định danh, địa chỉ, lối tiếp cận, mã bưu chính, tọa độ, trạng thái hoạt động, tên địa điểm, thông tin kết cấu, cơ quan chủ quản dữ liệu và các thông tin liên quan được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Điểm đáng chú ý là dữ liệu định danh địa điểm không được tạo lập hoàn toàn từ đầu mà được hình thành trên cơ sở khai thác các nguồn dữ liệu hiện có. Dữ liệu về địa chỉ, đất đai, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, nền địa lý và các dữ liệu khác phục vụ định danh được thu thập từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương, sau đó tổng hợp về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu gốc có trách nhiệm rà soát, cập nhật dữ liệu khi có biến động và thực hiện đồng bộ, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
Nghị định cũng quy định cơ chế xử lý khi thông tin có sai sót hoặc không thống nhất. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền phản ánh về dữ liệu địa điểm; cơ quan tiếp nhận phải chuyển thông tin đến cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu gốc để kiểm tra, xử lý. Trường hợp dữ liệu về cùng một địa điểm có sự sai lệch giữa các hồ sơ do các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý, cơ quan được giao quản lý đối tượng và tạo lập cơ sở dữ liệu chuyên ngành có trách nhiệm thống nhất điều chỉnh thông tin trước khi cập nhật vào Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
Đối với các tỉnh, thành phố, Nghị định đặt ra trách nhiệm cụ thể trong quá trình xây dựng và cập nhật dữ liệu. UBND cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ trong thu thập, tạo lập, cập nhật dữ liệu; phân công, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp xã thu thập, kiểm tra, cập nhật và quản lý dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ định danh địa điểm. Địa phương cũng thực hiện việc thu thập, tạo lập dữ liệu bản đồ nền, dữ liệu không gian phục vụ xây dựng bản sao số và đồng bộ dữ liệu về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
Việc khai thác dữ liệu được thực hiện theo từng nhóm đối tượng và phạm vi quyền truy cập. Dữ liệu công khai về định danh địa điểm có thể được khai thác trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin phục vụ chức năng, nhiệm vụ thông qua các nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia, nền tảng định danh và xác thực điện tử và các nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu khác theo quy định. Cá nhân, tổ chức cũng có thể khai thác thông tin của mình theo quy định.
Nghị định phân loại dữ liệu định danh địa điểm thành dữ liệu công khai và dữ liệu không công khai. Dữ liệu không công khai gồm một số thông tin như thông tin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thông tin kết cấu, thông tin địa không gian ba chiều, cơ quan chủ quản dữ liệu, chủ sở hữu hoặc người sử dụng địa điểm và các thông tin khác được kết nối, chia sẻ. Việc khai thác, chia sẻ nhóm dữ liệu này phải tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước.
Một quy định đáng lưu ý đối với hoạt động giải quyết thủ tục hành chính là khi thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm thì không yêu cầu người dân, tổ chức cung cấp lại thành phần hồ sơ đó. Việc khai thác dữ liệu phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền. Cơ quan, tổ chức có nhu cầu kết nối với Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm phải bảo đảm hệ thống thông tin đang quản lý đáp ứng yêu cầu an toàn hệ thống thông tin tối thiểu cấp độ 3 và thực hiện trình tự kết nối theo quy định.
Nghị định cũng xác định rõ trách nhiệm của Bộ Công an trong việc chủ trì đầu tư, xây dựng Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm tập trung, thống nhất; ban hành quy trình và tổ chức thực hiện việc định danh; hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ đồng bộ dữ liệu; kết nối, tích hợp, chia sẻ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử, Cổng Dịch vụ công quốc gia và các nền tảng khác theo quy định. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm xây dựng, nâng cấp cơ sở dữ liệu liên quan, đồng bộ dữ liệu và phối hợp thống nhất phương án kết nối, chia sẻ.
Nghị định số 326/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026. Các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương có dữ liệu đáp ứng yêu cầu phải thực hiện đồng bộ theo quy định; trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ thì xây dựng lộ trình thu thập, tạo lập, bổ sung và đồng bộ về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm.
Việc thống nhất mã định danh và dữ liệu địa điểm trên phạm vi cả nước sẽ được triển khai trên cơ sở dữ liệu hiện có của các bộ, ngành và địa phương. Cùng với yêu cầu chuẩn hóa, cập nhật và đồng bộ dữ liệu, Nghị định đặt ra cơ chế khai thác, chia sẻ thông tin theo đúng thẩm quyền, bảo đảm an toàn và bảo vệ dữ liệu, trong đó đáng chú ý là nguyên tắc không yêu cầu cung cấp lại những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu phục vụ giải quyết thủ tục hành chính.