Chính phủ ban hành Nghị định quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng
Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 329/2026/NĐ-CP quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng. Nghị định có hiệu lực thi hành ngay từ ngày ban hành, quy định về tổ chức, hoạt động, cơ chế phối hợp, huy động tham gia bảo vệ an ninh mạng; đồng thời quy định chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài và trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là lần đầu quy định rõ cấu trúc của lực lượng bảo vệ an ninh mạng gồm ba thành phần: lực lượng chuyên trách, lực lượng thường trực và lực lượng dự bị. Việc tổ chức lực lượng được thực hiện theo nguyên tắc chỉ huy thống nhất, phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Theo Nghị định, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng là lực lượng nòng cốt được bố trí tại Bộ Công an và Bộ Quốc phòng theo quy định của pháp luật. Lực lượng này thực hiện các nhiệm vụ từ tham mưu chính sách, pháp luật; quản lý nhà nước về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân đến phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm an ninh mạng; điều phối, hướng dẫn, huấn luyện, diễn tập, ứng cứu sự cố và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh mạng.
Đối với các bộ, ngành, UBND cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, Nghị định quy định về lực lượng thường trực bảo vệ an ninh mạng. Đây là lực lượng được bố trí phù hợp với quy mô, tính chất và mức độ quan trọng của hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý. Việc tổ chức có thể theo hình thức thành lập đơn vị hoặc bộ phận chuyên trách, bố trí nhân sự chuyên trách hoặc thuê tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ an ninh mạng theo quy định của pháp luật để hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hệ thống thông tin.
Lực lượng thường trực có trách nhiệm trực tiếp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý; tổ chức quản lý rủi ro, giám sát an ninh mạng, kiểm soát truy cập và phân quyền; thực hiện quy trình ứng cứu sự cố, chế độ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất; tổ chức kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ quy định về bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân; đồng thời tham gia đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, diễn tập và trao đổi thông tin phục vụ công tác bảo vệ an ninh mạng theo quy định.
Một điểm mới khác là việc hình thành lực lượng dự bị bảo vệ an ninh mạng. Nghị định xác định lực lượng này gồm các tổ chức, cá nhân có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm, nhân lực, phương tiện, thiết bị hoặc giải pháp kỹ thuật phù hợp, được quản lý, kết nối và huy động tham gia khi cần thiết. Lực lượng dự bị không phải là một tổ chức độc lập trong bộ máy nhà nước, không làm phát sinh biên chế, chức danh hay thẩm quyền công vụ mà hoạt động trên cơ sở chương trình, kế hoạch, hợp đồng, thỏa thuận, đặt hàng hoặc quyết định huy động của cơ quan có thẩm quyền.
Các tổ chức, cá nhân thuộc lực lượng dự bị có thể tham gia tư vấn kỹ thuật, nghiên cứu và phát triển giải pháp bảo vệ an ninh mạng; hỗ trợ kiểm tra, đánh giá, phát hiện lỗ hổng bảo mật, mã độc và các nguy cơ mất an ninh mạng; hỗ trợ ứng phó, khắc phục sự cố, phục hồi và phân tích dữ liệu điện tử; tham gia đào tạo, tập huấn hoặc thực hiện những nhiệm vụ khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động bảo vệ an ninh mạng. Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, bí mật công tác và nghiêm cấm việc lợi dụng quá trình tham gia để khai thác, công bố hoặc sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu.
Trong hoạt động phối hợp giữa các lực lượng, Nghị định dành riêng các quy định về trao đổi, cung cấp thông tin và dữ liệu phục vụ bảo vệ an ninh mạng. Thông tin được chia sẻ bao gồm nhật ký kỹ thuật, dữ liệu phản ánh dấu hiệu và phương thức tấn công mạng, mẫu mã độc, thông tin rủi ro, khuyến nghị cấu hình và các dữ liệu kỹ thuật cần thiết khác. Việc trao đổi phải bảo đảm đúng mục đích, đúng đối tượng, tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh và phải được lưu vết theo quy định. Bộ Công an được giao thiết lập, quản lý cổng kết nối trực tuyến phục vụ hoạt động phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ an ninh mạng.
Nghị định cũng tạo cơ chế để huy động và khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo, chuyên gia và cá nhân có năng lực tham gia bảo vệ an ninh mạng trong những trường hợp cần thiết. Việc huy động được thực hiện đối với các tình huống khẩn cấp, nghiêm trọng về an ninh mạng; bảo vệ các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và hạ tầng số trọng yếu; phòng ngừa, phát hiện, xử lý lỗ hổng bảo mật, mã độc, sự cố an ninh mạng hoặc thực hiện các chương trình huấn luyện, diễn tập, đánh giá an ninh mạng theo quy định. Mọi hoạt động huy động đều phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi, thời hạn, yêu cầu bảo mật và trách nhiệm của các bên tham gia.
Đáng chú ý, Nghị định khuyến khích xây dựng các mạng lưới, liên minh tự nguyện tham gia bảo vệ an ninh mạng theo từng ngành, lĩnh vực, địa bàn hoặc chuyên môn kỹ thuật. Đây là cơ chế để các tổ chức, doanh nghiệp và chuyên gia cùng chia sẻ thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, huấn luyện, cảnh báo và phối hợp xử lý những vấn đề phát sinh trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tuân thủ pháp luật. Cùng với đó, các chương trình săn tìm, phát hiện và báo cáo điểm yếu, lỗ hổng bảo mật cũng được khuyến khích triển khai trong phạm vi hệ thống thông tin được cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp chủ quản cho phép.
Bên cạnh việc quy định về tổ chức lực lượng, Nghị định dành một chương riêng quy định chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng. Theo đó, chính sách được áp dụng trên cơ sở vị trí việc làm, tính chất nhiệm vụ, trình độ chuyên môn, mức độ cống hiến và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn trong lực lượng chuyên trách có thể được xem xét hưởng mức hỗ trợ tăng thêm hằng tháng theo từng nhóm nhiệm vụ, với mức tối đa từ 100% đến 300% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng theo quy định của Nghị định.
Đối tượng thu hút nhân tài được xác định là các chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư, lập trình viên, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia trí tuệ nhân tạo, mật mã, điện tử - viễn thông, bán dẫn, công nghệ lượng tử, điều tra số, ứng cứu sự cố mạng và những người có trình độ chuyên môn cao hoặc thành tích nổi bật trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh mạng. Việc tuyển chọn, tiếp nhận, bố trí và sử dụng phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đúng thẩm quyền, công khai, minh bạch và gắn với yêu cầu xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
Nghị định đồng thời quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong tổ chức thực hiện. Các cơ quan có trách nhiệm xác định đầu mối phối hợp, xây dựng hoặc rà soát, cập nhật quy chế nội bộ và bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng theo quy định của pháp luật. Cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chịu trách nhiệm xác định đúng đối tượng, điều kiện, phạm vi nhiệm vụ và kết quả thực hiện; bảo đảm việc triển khai đúng thẩm quyền, đúng mục tiêu, công khai, minh bạch và phù hợp với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác.
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 329/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý thống nhất về tổ chức và hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong bảo vệ hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và hạ tầng số. Nghị định có hiệu lực từ ngày 19/8/2026 và là căn cứ để các bộ, ngành, địa phương cùng tổ chức triển khai các nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng theo chức năng, nhiệm vụ được giao.